VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

03.04.2012

NHÀ THƠ PHẠM TIẾN DUẬT – Ý nghĩa của một phong cách

Filed under: Không cụ thể — vương-trí-đăng @ 09:10

NVTPHCM- “Một người chiến sĩ có tâm hồn nghệ sĩ luôn luôn xông xáo ở những mũi nhọn – đó là hình ảnh một Phạm Tiến Duật trong thơ, và hơn thế nữa, là hình ảnh một Phạm Tiến Duật trong cuộc đời. Thơ anh được ưa thích là một điều có lý của nó mà cái lý trước hết là: những ưu điểm và nhược điểm trong thơ Phạm Tiến Duật rất tiêu biểu. Nó phản ánh đầy đủ yêu cầu của quần chúng và tình hình văn nghệ ở một đất nước đang trong thời chiến.”

Những người mới quen giới văn nghệ nhiều lúc có cảm tưởng rằng những người viết có phần khắt khe: người ta khen nhau ít quá. Thực ra thì “nằm trong chăn mới biết chăn có rận” người nào tỉnh táo một chút khi nói về ngành mình cũng đều có nhiều băn khoăn lo lắng. Có lo lắng, băn khoăn thì mới biết hướng phải đi, biết đường mà phấn đấu. Nữa là đây lại là công việc văn nghệ, một thứ thực tế thứ hai, một thứ phản ánh của đòi sống, bao giờ cũng ít nhiều đi sau đời sống. Chúng ta hiểu đời sống thì lớn lao, cái phạm vi mà văn nghệ phải bao quát thì vô cùng, công việc trước mặt mình thật nhiều, đường xa mòn mỏi. Chúng ta trông ở nhau để làm việc, để sốt ruột hộ nhau, cũng là để thúc đẩy nhau tiến lên hơn nữa.

Nhưng trong đời sống, những điểu cực đoan lại hay đi với nhau. Người ròn cười thì cũng tươi khóc, người hay nghi ngại khi tìm được tri kỷ thì hết sức tin yêu. Đó cũng là quy luật của sự khen chê trong văn nghệ: giữa lúc mọi người đang bối rối, đang lo toan, bỗng nhiên một người mở ra được đường đi, vạch thêm được một lối thoát, thì mọi người đều hỉ hả vui mừng. Người ta không chỉ vui mừng cho chính người kia. Người ta vui mừng vì một khả năng của thực tế được phát hiện. Người ta vui mừng vì tương lai chung còn sán lạn, mình còn có hướng để phấn đấu. Người ta tìm được chỗ mà tin yêu.

Nghe các anh nhà văn lớp trước kể lại, tôi thường cố tưởng tượng khung cảnh chào đón những sự kiện lớn của đời sống văn học ta từ hơn hai chục năm nay, khi mà những giải thưởng văn học lớn được công bố. Khi những tác phẩm có tính chất cổ điển như một Đất nước đứng lên ra đời. Nhưng riêng trong năm 1969, năm thứ năm của cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc và năm thứ 15 của cuộc đấu tranh vì thống nhất nước nhà cùng một thời gian, tôi được chứng kiến sự chào đón của giới văn nghệ với hai tác phẩm đặc biệt: mấy chương đầu tiểu thuyết ở xã Trung Nghĩa của nhà văn miền Nam Nguyễn Thi và chùm thơ dự thi trên tờ báo Văn nghệ của Phạm Tiến Duật. Trong một năm mà tìm được một ít chương truyện với một chùm thơ hay, thế đã là hiếm hoi lắm. Riêng trong phạm vi thơ mà nói, cho đến cuộc thi thơ vừa qua, thơ Phạm Tiến Duật là trung tâm chú ý của tất cả mọi người. Các nhà thơ lớp trước đã không ngại dùng những chữ như “tài năng”, “hiện tượng”. Điều đó chứng tỏ thơ Phạm Tiến Duật vượt qua phạm vi thơ già- thơ trẻ, mà là một hiện tượng riêng, đòi hỏi mọi người phải nghiên cứu. Còn những người viết trẻ thì vui mừng cách khác. Đây lại là một trường hợp chứng tỏ khả năng của lứa mình. Người ta thấy những triển vọng mở ra: nếu mình được đi được làm việc, mình cũng sẽ có những đóng góp như thế. Ngay cả những người viết văn xuôi, ngoài cái sự “thẩm thơ” rất ngược văn xuôi, nhiều anh vẫn cảm thấy trong các thứ thơ, thơ Phạm Tiến Duật gần với thể loại của mình hơn cả, và mình có thể có những liên tưởng nhất định, giúp cho nghề nghiệp riêng của mình nhất định, khi đọc những bài thơ của tác gải trẻ này.

Chẳng riêng giới văn nghệ: nhiều người ở các ngành khác, đông đảo bạn đọc của chúng ta đã hỏi thăm về những bài Gửi em cô thanh niên xung phong. Tiểu đội xe không kính v.v… Khi cùng đi những chuyến đi công tác ở cơ sở với tác giả các bài thơ ấy, tôi đã được chứng kiến những cảnh làm xong thơ, anh mang ra đọc cho mọi người. Anh chăm chú nghe ý kiến trao đổi của một đồng chí cán bộ chính trị. Anh sung sướng nhận lời khen của một bà cụ già. Anh thường đọc thơ ngay cho những đối tượng thơ mình nói đến để chờ người ta góp ý kiến trực tiếp. ở những cửa khẩu, những trọng điểm vận tải quân sự, anh chép thơ của mình thành nhiều bản nhỏ, dúi vào tay các đồng chí lái xe, như một lời dặn dò tin tưởng giúp họ thêm nghị lực đi vào vùng địch đánh phá. Tôi biết rằng không phải người làm thơ nào cũng có gan làm như thế, và không phải thơ nào cũng có sức đi vào lòng nhiều người khác nhau như thế. Trong sự đa dạng nhiều màu sắc của thơ, thơ đã có sự phân công nhất định: có thứ thơ cho lứa thanh niên cuối cấp hai, đầu cấp ba đọc. Có thứ thơ cho những anh em sinh viên, anh em trí thức. Dĩ nhiên, có thứ thơ hợp với một số bà con ta quen nghe đài vào những buổi phát thanh nông thôn hơn. Xưa nay, thứ thơ được nhiều tầng lớp khác nhau thích vốn hiếm: hoặc là dở, hoặc là thật hay. Thơ Phạm Tiến Duật rồi sẽ chịu sự sàng lọc gắt gao của thời gian; tuy nhiên, ngay từ bây giờ, nó đã chứng tỏ khả năng phổ cập rất rộng, phổ cập mà vẫn không rơi vào thơ ca hò vè “tỉnh lẻ” cho nên càng dễ có khả năng sống lâu – phổ cập, dễ hiểu mà vẫn sâu sắc, hàm xúc vốn là một yêu cầu của văn nghệ nói chung, lại là một yêu cầu rất cao trong văn nghệ xã hội chủ nghĩa.

***

Ngay từ cuối năm 1966, trong giới thơ chuyên nghiệp của chúng ta đã có một cuộc trao đổi ý kiến về thơ chiến đấu. Thường chúng ta bận nhiều việc quá, cứ lo làm tới làm lui, chưa có những tổng kết kinh nghiệm, đúng hơn là chưa có những tổng kết có sức thuyết phục mạnh mẽ. ở một nước mà lịch sử là chống ngoại xâm liên tiếp như ở nước ta, đặc diểm của nền văn học là gì? Nền văn học nói về chiến tranh ra sao? Người văn nghệ trong các cuộc chiến tranh đã có những đóng góp gì? Vẫn chưa có những nhận xét cụ thể. Ngay sau cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc 1946-54, chúng ta cũng chưa có dịp bàn luận cho kỹ càng, thì đã bước vào cuộc chiến đấu mới. Đành là vừa làm vừa mò mẫm. Đành là có những nhận xét vụn vặt từng người từng trường hợp, để rồi lại tiếp tục làm mạnh hơn. Có một điều chắc chắn là: mặc dầu vậy, văn nghệ có những quy luật phát triển của nó, có những quy luật nội tại của văn nghệ mà cũng là những quy luật gắn liền với tình hình xã hội chính trị nói chung. ứng với mỗi giai đoạn có những phong cách văn học nổi lên, nó phản ánh những yêu cầu tâm lý chung, và sự tiếp nối của phong cách này bằng phong cách kia bao giờ cũng có tính chất tất yếu. Riêng trong phạm vi tiếng thơ của thanh niên, thơ của các bạn trẻ mà tôi thường đọc và tìm ở đó tình cảm ý nghĩ của mình chẳng hạn. Những ngày đầu chiến tranh, cuối 1965, đầu 1966, tôi rất yêu những câu thơ của một bạn trẻ là Lưu Quang Vũ.

Ta đi chiến đấu yêu thương lắm

Mỗi xóm thôn qua, mỗi nghĩa tình.

Cả dòng thơ Lưu Quang Vũ là một tiếng tâm tình tỉ tê tâm sự và thương yêu như thế. Cho đến những ngày 1967, 1968, tôi mới lại gặp một tiếng thơ khác đi

– Đi qua những chiến hào ta nhìn ra hạnh phúc

Đôi mắt nhìn nhau xanh hơn xưa

– Tự những năm ai cũng hoá anh hùng

Sẽ rèn đúc ai cũng đều nhân hậu

Thay cho cái bỡ ngỡ tin yêu là cái cần mẫn nhận thức trong thơ Bằng Việt. Tập Bếp lưủa ấy là một tập thơ suy nghĩ như ta vẫn nói. Bây giờ thì các bạn thơ ấy của tôi vẫn đang phấn đấu theo đường của mình. Nhưng cũng không hiểu tự lúc nào, một tiếng thơ khác xen vào, và dần dần có sức lay động tâm hồn chúng ta: mọi nguời vui mừng vì lại có thêm Phạm Tiến Duật. Chưa bao giờ trong thơ lại có nhiều chi tiết sinh hoạt như thế. Anh nói về những tiểu đội xe không kính, anh nói về các cô thanh niên xung phong đóng cọc dào rào quanh hố bom: anh nói về cái quệt nước trên xe ô tô những ngày mùa mưa ở Trường Sơn. Mà vào trong thơ những chữ nghĩa mới, khung cảnh mới, người đọc thơ như được làm một cuộc viễn du. Phạm Tiến Duật dẫn ta đi, anh có thơ về mọi bước đường của anh, mà cũng là mọi bước đường của cuộc chiến đấu hiện nay.

Nhà thơ Phạm Tiến Duật (người thứ 2 từ phải qua) tại

Hội nghị mừng công Binh đoàn Trường Sơn mùa khô năm 1970-1971

Khi nói thơ Phạm Tiến Duật nói được những cái cụ thể hàng ngày, những người làm thơ hiểu ngay khó khăn của anh: đưa những cái này thành thơ, người viết phải nói có duyên lắm

Cây trúc làm duyên phải nhờ gió thổi

Cô gái làm duyên phải dùng giọng nói

Bông hoa làm duyên phải luỵ hướng bay.

Phạm Tiến Duật đã ví quả ớt như ngọn đèn tín hiệu, vết xước trên vai áo của cô thanh niên bốc vác hồn nhiên như bông hoa lan trắng ngần.

Cái duyên nói nghe lọt tai của anh là nhờ anh có tình với những gì mà anh nói tới. Tình của một người tuổi trẻ, hồn nhiên đang mở rộng tấm lòng ra để thương yêu, có khi như là trêu đùa bỡn cợt nữa. Về phương diện này, một bài như tài Gửi em cô thanh niên xung phong rất tiêu biểu. Tôi nhớ cách nói của một nhà văn: Có lẽ đã nhiều người ca ngợi thanh niên xung phong họ dùng nhiều chữ nghĩa kêu hơn, mạnh hơn trong lòng họ. Còn hồn nhiên như bông hoa lan trắng ngần là người ở trong cuộc, anh mến yêu những người con gái ấy một cách rất cụ thể.

Thương em, thương em, thương em biết mấy.

Thương để rồi đi tìm, thương nên mới trêu, đùa, như là bỡn cợt nữa, cái bỡn cợt duyên dáng vốn rất cần sau những giờ phút làm việc mệt nhọc, vốn là một bản tính của những người lao động chúng ta.

Theo chỗ tôi hiểu, không phải hồn nhiên như bông hoa lan trắng ngần là người đầu tiên chủ trương đưa cái thực tế với những chi tiết nhỏ nhất của nó vào thơ ca. Có cả một nhà thơ chủ trương trong những bài tiểu luận quan trọng và anh đã mạnh dạn cắt bỏ những bài thơ theo một dọng điệu khác, để dễ xuống một thứ thơ như thế này. Trong số các bạn viết thơ trẻ, cũng đã có người nói thơ anh như công trường lúc nào cũng dở dang gạch ngói. So với những người ấy, thì thơ Phạm Tiến Duật có duyên hơn. Nếu cắt nghĩa rằng như thế, Phạm Tiến Duật có tài hơn thì chưa đủ. Bao giờ cũng thế ở trong văn học, cái tài bắt nguồn từ cái tình. Nhất là trường hợp lối thơ thực tế này, người viết phải có tình với đối tượng mà anh nói tới lắm mới phải.

Từ những đối tượng cụ thể, rồi anh sẽ nâng lên thành những vấn đề tư tưởng. Đã bao người làm thơ Đèo Ngang – Mà không nói con đèo chạy dọc” ấy là một câu thơ trong bàiĐèo Ngang. Nó cũng là một ví dụ về tính tư tưởng trong thơ. Từ những điều rất bâng quơ mà nâng lên thành những chuyện chính trị, triết học cao siêu; nâng lên, nhấn mạnh, gói ghém trong đó, mà người ta không cảm thấy một cách gò gẫm, giả tạo, hoặc lên gân khó chịu. Trong đời sống, chúng ta vốn sợ những người lúc nào cũng ra vẻ ưu tư phiền muộn mà nói ra toàn những điều sách vở: người ta gọi những anh chàng kiểu đó là lý luận rởm, kiểu cách, gàn. Còn thỉnh thoảng ta mới gặp những người mà ung dung như không, nói cười ha hả, những nhận xét cái gì thì hết sức sâu sắc, cụ thể. Một sự thông minh có tính chất dân gian như thế rất tiêu biểu cho người ViệtNam chúng ta.

Không làm ra vẻ suy nghĩ, nhưng hồn nhiên như Phạm Tiến Duật vẫn muốn nói một điều gì đằng sau những cái hàng ngày. Đó là một cố gắng phấn đấu của anh, và có những trường hợp, anh đã thành công. Khi nói về Chuyện lạ gặp trên đường hành quân những dấu vết mà người chiến sĩ gặp ở Trường Sơn, một dấu voi đi, một cái bi đông những người anh Nam Tiến trước kia để lại, Phạm Tiến Duật muốn nói về sự tiếp nối của lịnh sử dân tộc. Còn những công việc bình thường hôm nay, dưới mắt anh, đều có ý nghĩa lịch sử – đó là trường hợp bài Công việc hôm nay. Lửa đèn có những đoạn nói về ta và địch vốn là rất khó nói mà Phạm Tiến Duật đã nói được. Cái đoạn cuối nó về ánh đèn chiến thắng ngày mai của anh xứng đáng là kết thúc cho một bài thơ vững chãi về toàn cục. Đây là cái bỏ nhỏ ở cuối bài Tiếng bom ở Seng Phan:

Thế đấy, giữa chiến trường

Nghe tiếng bom rất nhỏ

Nhưng có phải đó cũng là nhận xét chung của mọi người, ở những chiến trường khác nhau? Cũng rất tự nhiên là ở cuối bàiVầng trăng và những quầng lửa (Tạp chí Văn nghệ quân đội 12/1969), sau khi tả rất nổi những quầng lửa chiến đấu, Phạm Tiến Duật vẫn cho bao trùm một ánh trăng:

Và vầng trăng, vầng trăng đất nước

Vút qua quầng lửa, vụt lên cao.

Có một thoáng như là tượng trưng trong đó. Một nhà văn đọc nhiều nói với tôi: những bài thơ hiện đại (một cách đúng nghĩa của hiện đại) ở nước ngoài cũng chỉ cấu tứ đến như thế.

***

Bài thơ Chuyện lạ gặp trên đường hành quân tôi nhắc trên in ở báo Văn nghệ năm 1966. Tôi muốn đính chính ngay ở đây một nhận xét lầm của nhiều người: Không phải cuối 1968, đầu 1969, Phạm Tiến Duật mới xuất hiện. Sự thực, trước đây anh đã in khá nhiều: 1965: Cái cầu. 1965-66: Ga xép, Chuyện lạ gặp trên đường hành quân, Mùa cam đất Nghệ, Chú Lự phố khách. Đây là chỉ kể những bài đăng giờ đọc lại còn dược, còn thấy đủ những ưu điểm của anh, có thể còn làm cho ta ngạc nhiên. Hai bài rất nổi: Lửa đèn, Công việc hôm nay đều được làm năm 1967, vì những lý do hác nhau đến nay mới đăng.

Như thế, Phạm Tiến Duật là một ngòi bút đã được thử thách. Điều tôi muốn nói thêm: sở dĩ trong những năm này, chúng ta mới cảm thấy như có sự phát hiện ra anh, đó là vì giữa người viết và người đọc chúng ta có một sự xích lại gần nhau trong tâm lý, tình cảm. Trên kia, tôi đã nhắc đến hai phong cách Lưu Quang Vũ và Bằng Việt. Chẳng phải là trong những ngày đầu tiên của chiến tranh, chúng ta ưa thích thơ người thứ nhất, rồi tiếp sau đó, khi thấy ý nghĩa đầy đủ hơn của các sự kiện, thấy lòng minh lắng thơ, cần vươn tới hơn, chúng ta đã tìm gặp những điều mình nghĩ ở người thứ hai? Còn đến những ngày này… Cuộc sống chiến đấu ngày càng đi vào bề sâu. Mỏi chân thì gần chợ, càng gần thắng lợi càng nhiều khó khăn. Và chúng ta cần nói với nhau bằng một thứ ngôn ngữ chân chất của thực tế, giành sự thuyết phục cho thực tế. Đó là sự chinh phục có sức mạnh nhất. Ngoài ra thì thơ cần vui, cần khoẻ mạnh, cần dòn dã… để đến với đông dảo bạn đọc. Thơ Phạm Tiến Duật có đầy đủ những đặc điểm của một thứ thơ chiến tranh, thơ truyền tay nhau, thơ đọc trong chiến hào như thế này. Kể ra, chúng ta đã biết từ lâu, nhưng có lẽ chưa bao giờ chúng ta cảm thấy đầy đủ một thứ lạc quan chuyên chính, lạc quan không giả tạo, không ồn ào là cần biết bao nhiêu trong những ngày đang chiến tranh. Mà bây giờ thì đã đến lúc mỗi người cảm thấy cái hiện thực đó như một cảm giác da thịt.

Thấy được nhưng cái chủ yếu ấy, chúng ta dễ dàng nhân nhượng Phạm Tiến Duật ở một số mặt khác. Có được bài thơ vui, khoẻ, giúp cho người đọc liên hệ đựoc một chút tư tưởng tình cảm của mình như kiểu Nhớ:

Cái vết thương xoàng mà đưa viện

Hàng còn chờ đó tiếng xe reo

Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến

Nôn nao ngồi dậy nhớ lưng đèo.

Thế là được rồi, quý lắm và hiếm lắm rồi. Dẫu sao thế vẫn còn hơn trường hợp những suy tưởng cao siêu mà chân chất thiếu thực tế. Cho nên, hẳn giá trị bài Tiểu đội không kính không phải là ở câu:

Chỉ cần trong xe có một trái tim

Mà là ở toàn bộ những đoạn trên. Cũng như vậy, chúng ta không thật ngạc nhiên với mấy câu suy tưởng ở cuối bàiGửi em Cô thanh niên xung phong:

Dừng chân bước đến khi ngoảnh lại

Bỗng giật mình đường xa ta xây

Đã có độ dài hơn cả độ dài

Đường cái từ xưa cộng lại

Đó là những trường hợp người viết muốn thêm vào một cái gì đó, mà chưa thật nhuyễn. Thật ra, anh không cần làm thì hơn. Toàn bộ những phần trên của anh đã duyên dáng và có ý nhị. Dẫu sao, cái cảm giác thiếu một bình diện thứ hai, một bình diện đằng sau những điều người viết nêu lên, vẫn là một cảm giác dễ gặp khi đọc thơ Phạm Tiến Duật. Anh chừng như muốn làm thơ cho ta, chứ không phải làm thơ cho chính anh. Cái phần tâm tình riêng của người viết trong thơ chưa được dầy dặn lắm. ấy là không kể về mặt thơ Phạm Tiến Duật còn nhiều nhược điểm khác. Để ………….. cái toàn bộ, anh còn để lỏi nhiều câu văn xuôi. Những câu thơ thật hàm xúc.

– Bụi mù trời mùa đông

Nước trắng khe mùa lũ

Đêm rộng đêm dài là đêm không ngủ

– Rực rỡ mặt đất bình minh

Hấp hối chân trời pháo sáng

Nghe còn có phần hiếm hoi. Thỉnh thoảng lại thấy cách gò ý, gò cấu tứ trong thơ Phạm Tiến Duật (kể cả : Nghĩ về trẻ con trước trận đánh in gần đây). Cùng với cái õng ẹo trong tình cảm, cái xộc xệch trong ngôn từ, nó là cái yếu nhất làm hỏng một số bài có thể khá hơn trong thơ Phạm Tiến Duật. Tuy vậy, công bằng mà nói, cả những bài trung bình, trung bình yếu của Phạm Tiến Duật cũng vẫn có hồn có cốt, nó ở những nét thực tế mà anh quan sát được, và ở cái dấu ấn tình cảm tinh nghịch có khi như là trẻ con của anh. Đối với một người làm thơ mà có được dăm bài thơ xuất sắc và toàn bộ cái nền vững vàng, chúng ta còn mong gì hơn nữa?

***

Bấy lâu này, trong văn nghệ có những điều gọi là lý luận. Chúng ta dặn dò nhau, trao đổi với nhau, nhữnh điều lý luận ấy đã đúng trong nhiều trường hợp khác nhau. Nhưng đến những trường hợp như thơ Phạm Tiến Duật, chúng ta lại có những chứng cớ vững chắc hơn. Trước hết nhà thơ trẻ này lại là một ví dụ về sự gắn bó của người viết, gắn bó bằng toàn bộ đời sống với cuộc chiến đấu chung, với thực tế cuộc sống, phần thực tế chủ yếu nhất là thực tế chiến đấu hiện nay của dân tộc. Một người chiến sĩ có tâm hồn nghệ sĩ luôn luôn xông xáo ở những mũi nhọn – đó là hình ảnh một Phạm Tiến Duật trong thơ, và hơn thế nữa, là hình ảnh một Phạm Tiến Duật trong cuộc đời. Thơ anh được ưa thích là một điều có lý của nó mà cái lý trước hết là: những ưu điểm và nhược điểm trong thơ Phạm Tiến Duật rất tiêu biểu. Nó phản ánh đầy đủ yêu cầu của quần chúng và tình hình văn nghệ ở một đất nước đang trong thời chiến.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: